Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định như thế nào?

Trần Thành Nhân 780 lượt xem
10:08 | 15/08/2023
Cho hỏi Nhà nước có thể yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế để thực hiện công tác an ninh quốc phòng không? Doanh nghiệp có được nhận đền bù trong trường hợp này không? Giá đền bù được xác định như thế nào? Câu hỏi của chị Trân từ Hà Nội.
Nội dung chính
  1. Nhà nước có thể yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế để thực hiện công tác an ninh quốc phòng không?
  2. Khi bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho cơ quan nhà nước thì doanh nghiệp có được đền bù không?
  3. Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định như thế nào?

Nhà nước có thể yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế để thực hiện công tác an ninh quốc phòng không?

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về các trường hợp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế như sau:

Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế
1. Trong các trường hợp sau đây, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Luật này mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế:
a) Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
...

Như vậy, trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước có quyền yêu cầu doanh nghiệp chuyển giao quyền sử dụng sáng chế nhằm mục địch thực hiện công tác an ninh quốc phòng.

Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định như thế nào?

Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định như thế nào? (Hình từ Internet)

Khi bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho cơ quan nhà nước thì doanh nghiệp có được đền bù không?

Theo Điều 146 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi điểm a và điểm b khoản 57 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) quy định về điều kiện để chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế như sau:

Điều kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc
1. Quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải phù hợp với các điều kiện sau đây:
....
c) Người được chuyển giao quyền sử dụng không được chuyển nhượng quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của mình và không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác;
d) Người được chuyển giao quyền sử dụng phải trả cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế khoản tiền đền bù theo thỏa thuận, trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc để nhập khẩu dược phẩm theo cơ chế của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và khoản tiền đền bù cho việc sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc đã được trả tại nước xuất khẩu;
đ) Quyền sử dụng được chuyển giao chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 145 của Luật này.
...

Như vậy, trong trường hợp bắt buộc phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho cơ quan nhà nước thì doanh nghiệp sẽ được đền bù khoản tiền đền bù theo thỏa thuận.

Trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Lưu ý: việc đền bù không bao gồm trường hợp quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc để nhập khẩu dược phẩm theo cơ chế của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và khoản tiền đền bù cho việc sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc đã được trả tại nước xuất khẩu.

Giá đền bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định như thế nào?

Căn cứ Điều 24 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì giá đề bù đối với quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc được xác định dựa trên các yếu tố như:

(1) Giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo hợp đồng;

(2) Kinh phí đầu tư để tạo ra sáng chế, trong đó phải xem xét đến phần kinh phí được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (nếu có);

(3) Lợi nhuận thu được do sử dụng sáng chế;

(4) Thời gian hiệu lực còn lại của văn bằng bảo hộ;

(5) Mức độ cần thiết của việc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế;

(6) Các yếu tố khác trực tiếp quyết định giá trị kinh tế của quyền sử dụng được chuyển giao.

Cũng theo quy định này thì giá đền bù không vượt quá 5% giá bán tịnh của sản phẩm được sản xuất theo sáng chế, với điều kiện bảo đảm nguyên tắc theo quy định pháp luật vừa nêu.

Cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế có thể thành lập hội đồng định giá hoặc trưng cầu giám định để xác định giá đền bù.

Logo Thư viện Pháp luật
Trần Thành Nhân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Sở hữu trí tuệ Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Phân cấp công trình đối với công trình hồ chứa quặng đuôi như thế nào? Về năng lực của cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì như nào?

Công ty có phát sinh thực hiện thi công hồ chứa thải quặng đuôi, gồm phần đập và lòng hồ, công ty áp dụng tiêu chí của công trình thủy lợi để xác định cấp công trình của hồ chứa quặng đuôi được hay không? Người chủ trì, chủ nhiệm thiết kế có bắt buộc phải có chuyên môn về thủy lợi hay không?

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?