Bị lừa dối kết hôn thì có yêu cầu hủy kết hôn được không? Nộp đơn yêu cầu hủy kết hôn ở đâu?

14:44 | 24/09/2026
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì lừa dối kết hôn là một trong những trường hợp kết hôn trái pháp luật. Theo đó, người bị lừa dối kết hôn có thể yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, sau đây là quy định chi tiết.
Nội dung chính
  1. Bị lừa dối kết hôn thì có yêu cầu hủy kết hôn được không?
  2. Nộp đơn yêu cầu hủy kết việc kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối kết hôn ở đâu?
  3. Đã nộp đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối kết hôn, nhưng sau đó lại muốn yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân này thì có được không?

Bị lừa dối kết hôn thì có yêu cầu hủy kết hôn được không?

Theo quy định hiện nay tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp bị lừa dối kết hôn được xem là kết hôn trái pháp luật.

Bởi lẽ, tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Theo đó, một trong những điều kiện kết hôn là cả nam và nữ đều phải tự nguyện kết hôn với nhau. Do đó, trường hợp bị lừa dối có thể được xem là một trong những yếu tổ làm ảnh hưởng đến tinh thần tự nguyện kết hôn.

Cụ thể, tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
1. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật này:
a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Theo đó, người bị lừa dối kết hôn có thể tự mình yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật vì việc kết hôn này đã vi phạm điều kiện tự nguyện giữa nam và nữ.

>>XEM THÊM: Người bị lừa dối kết hôn có được quyền nhờ người khác yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn không?

>>XEM THÊM: Hợp đồng hôn nhân nhằm cưỡng ép kết hôn có bị vô hiệu không?

Bị lừa dối kết hôn thì có yêu cầu hủy kết hôn được không? Nộp đơn yêu cầu hủy kết hôn ở đâu?

Bị lừa dối kết hôn thì có yêu cầu hủy kết hôn được không? Nộp đơn yêu cầu hủy kết hôn ở đâu? (Hình từ Internet)

Nộp đơn yêu cầu hủy kết việc kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối kết hôn ở đâu?

Căn cứ Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
...

Tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025 quy định như sau:

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.

Đồng thời, tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng có quy định:

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
...
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
...
g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;;

Theo đó, người bị lừa dối kết hôn có thể nộp đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đến Tòa án nhân dân khu vực nởi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện, để Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Đã nộp đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối kết hôn, nhưng sau đó lại muốn yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân này thì có được không?

Căn cứ Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Xử lý việc kết hôn trái pháp luật
1. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.
3. Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Theo các quy định được trích dẫn nêu trên thì việc lừa dối kết hôn là vi phạm điều kiện tự nguyện kết hôn của nam và nữ. Người bị lừa dối có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Tuy nhiên, nếu sau khi đã nộp đơn yêu cầu, mà cả vợ và chồng đã đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và muốn Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó.

Logo Thư viện Pháp luật
Lê Nhựt Hào Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thủ tục Tố tụng Xem thêm

Bài viết mới nhất