Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới?

Bùi Đặng Hương Quyên
22:02 | 02/08/2026
Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết theo quy định tại Điều 112 Luật Thi hành án hình sự 2025. Xem chi tiết quy định dưới đây:
Nội dung chính
  1. Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới?
  2. Người chấp hành án phạt quản chế có các quyền và nghĩa vụ gì?
  3. Thủ tục thi hành án phạt quản chế được thực hiện như thế nào?

Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới?

Căn cứ theo Điều 112 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định về việc giải quyết trong trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế như sau:

(1) Trường hợp có lý do chính đáng, người chấp hành án có thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế. Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:

- Trưởng Công an cấp xã nơi quản chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;

- Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế.

(2) Thời hạn người chấp hành án được phép đi khỏi nơi quản chế do người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định, nhưng mỗi lần không quá 10 ngày.

Trường hợp người chấp hành án phải đi chữa bệnh thì thời gian đi khỏi nơi quản chế theo thời gian đi chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

* Trên đây là thông tin về "Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới?"

Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới?

Từ 01/7/2026, người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế thì giải quyết như thế nào theo quy định mới? (Hình từ Internet)

>>> Hồ sơ đề nghị miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại gồm những gì? Thủ tục miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại?

>>> Thủ tục thi hành án phạt quản chế từ 1/7/2026 ra sao? Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế gồm những gì?

Người chấp hành án phạt quản chế có các quyền và nghĩa vụ gì?

Căn cứ theo Điều 111 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế như sau:

(1) Quyền

- Sinh sống tại nơi quản chế;

- Lựa chọn việc làm thích hợp, trừ những ngành, nghề hoặc công việc mà người chấp hành án không được làm theo quy định của pháp luật; được hưởng thành quả lao động do mình làm ra;

- Tự do đi lại trong phạm vi xã, phường, đặc khu nơi quản chế;

- Được xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại theo quy định tại Điều 115 Luật Thi hành án hình sự 2025

(2) Nghĩa vụ:

- Chịu sự quản lý, kiểm soát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã và Nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi quản chế;

- Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng, trình diện và báo cáo với Công an cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế;

- Có mặt lại địa điểm quy định khi Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng;

- Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội;

- Trường hợp được phép đi khỏi nơi quản chế, người chấp hành án phải khai báo tạm vắng; trình diện, xuất trình giấy phép, làm thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã nơi đến theo quy định; trở về nơi quản chế đúng thời hạn và trình diện với Công an cấp xã.

Thủ tục thi hành án phạt quản chế được thực hiện như thế nào?

Căn cứ theo Điều 109 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định về thủ tục thi hành án phạt quản chế như sau:

(1) 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế, Giám thị trại giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án hình sự 2025 cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về cư trú để chấp hành án phạt quản chế.

Trường hợp phạm nhân không còn nơi cư trú tại địa chỉ quản chế theo bản án đã tuyên thì trại giam xác minh nơi phạm nhân sẽ về cư trú và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó về cư trú để tiếp nhận và thực hiện quản chế người chấp hành án.

(2) Ngay sau khi phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế chấp hành xong án phạt tù, trại giam phải giao người bị quản chế kèm theo bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án, chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu có liên quan cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh tại trụ sở Công an cấp xã nơi người đó về cư trú.

Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải yêu cầu người chấp hành án phạt quản chế cam kết việc chấp hành án và giao ngay người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã để quản lý, kiểm soát, giáo dục.

(3) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải lập hồ sơ thi hành án phạt quản chế và bàn giao cho Công an cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú. Hồ sơ bao gồm:

- Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

- Bản sao quyết định thi hành án phạt tù;

- Chứng nhận chấp hành xong án phạt tù;

- Biên bản giao người bị quản chế;

- Tài liệu về quá trình chấp hành án phạt tù và tài liệu khác có liên quan;

- Cam kết của người chấp hành án phạt quản chế;

- Nhận xét về quá trình chấp hành án phạt quản chế;

- Biên bản vi phạm nghĩa vụ của người chấp hành án (nếu có);

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);

- Quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại (nếu có).

(4) 03 ngày trước khi hết thời hạn quản chế hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Công an cấp xã bàn giao hồ sơ thi hành án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để cấp chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế. Chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Công an cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án.

(5) Trường hợp người chấp hành án chết, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo và bàn giao hồ sơ thi hành án phạt quản chế cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.

Logo Thư viện Pháp luật
Bùi Đặng Hương Quyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Trường hợp nào áp dụng tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn? Phạm tội vì động cơ đê hèn có phải là tình tiết tăng nặng không?

Bộ luật Hình sự 2015 quy định tình tiết phạm tội vì động cơ đê hèn là một trong những nội dung cần xem xét khi quyết định bản án đối với người phạm tội. Vì đây có thể là tình tiết định khung hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.