Đã có Công văn 319/TANDTC-PC báo cáo việc giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án liên quan đến hoạt động hòa giải cơ sở?
Ngày 15/8/2025, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn 319/TANDTC-PC năm 2025 Tải về về việc báo cáo việc giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án
Theo Công văn 319/TANDTC-PC năm 2025, để có cơ sở cung cấp thông tin về tình hình giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án liên quan đến tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở theo đề nghị của Bộ Tư pháp tại Công văn 4459/BTP năm 2025, Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu Chánh án các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo tổ chức triển khai xây dựng Báo cáo như sau:
(1) Kết quả giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án (công nhận hòa giải thành ở cơ sở) theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật tố tụng dân sự. Tồn tại, hạn chế trong quá trình giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án (nếu có); kiến nghị, đề xuất giải pháp khắc phục.
(2) Kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án, thụ lý vụ việc mà đã được hòa giải ở cơ sở trước đó (nếu có).
(3) Những vụ việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án có liên quan đến tổ chức và hoạt động của hòa giải cơ sở.
Thời gian thống kê số liệu tính từ ngày 01/7/2023 đến 30/6/2025.
Báo cáo đề nghị gửi về Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học), số 48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội; và gửi file word về hộp thư điện tử phongdansu@gmailcom trước ngày 31/8/2025.
Xem chi tiết thêm tại Công văn 319/TANDTC-PC năm 2025 ban hành ngày 15/8/2025.

Đã có Công văn 319/TANDTC-PC báo cáo việc giải quyết vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án liên quan đến hoạt động hòa giải cơ sở? (Hình từ Internet)
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân?
Căn cứ theo Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân như sau:
(1) Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử, quyết định về các tranh chấp, vi phạm pháp luật, về những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của luật; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
(2) Khi thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Xét xử, giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự (gồm vụ án dân sự và việc dân sự), vụ việc phá sản và vụ án, vụ việc khác theo quy định của pháp luật;
- Giải quyết, xét xử vi phạm hành chính theo quy định của luật;
- Quyết định những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của luật;
- Phát hiện, kiến nghị về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật trong xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của luật;
- Giải thích áp dụng pháp luật trong xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc;
- Tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; phát triển án lệ;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án theo quy định của luật;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án như thế nào?
Căn cứ theo Điều 3 Luật Hòa giải, đối thoại tại Toà án 2020 quy định nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án như sau:
(1) Các bên tham gia hòa giải, đối thoại (sau đây gọi là các bên) phải tự nguyện hòa giải, đối thoại.
(2) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ.
(3) Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
(4) Nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
(5) Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 Luật Hòa giải, đối thoại tại Toà án 2020.
(6) Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc.
(7) Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật.
(8) Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này họ có thể tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình.
Người tham gia hòa giải, đối thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng được coi là người phiên dịch.
(9) Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];