Công văn 7580/BTP-BTTP về kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai theo hiện hành có nội dung nào?
Ngày 29/9/2026, Bộ Tư pháp đã có Công văn 7580/BTP-BTTP năm 2026 về phối hợp tiếp tục góp ý kiến về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Tron đó có nội dung kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai theo hiện hành.
>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 7580/BTP-BTTP năm 2026

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp ngày 28/9/2026 về thống nhất một số nội dung còn ý kiến khác nhau tại dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), sau khi rà soát dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được báo cáo tại cuộc họp, liên quan đến nội dung về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất (Điều 21 dự thảo Luật).
Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:
Thứ nhất, quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là những quyền quan trọng của người sử dụng đất, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao.
Đây là các giao dịch quan trọng, tác động lớn đến người sử dụng đất, cần có cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý để hạn chế các tranh chấp phát sinh và các giao dịch này hiện đang được quy định phải công chứng, chứng thực tại khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai hiện hành.
Việc công chứng đối với các giao dịch này nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho những giao dịch dân sự, kinh tế quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần giảm thiểu chi phí xã hội và chi phí tư pháp thông qua cơ chế phòng ngừa rủi ro và tranh chấp từ giai đoạn trước khi phát sinh; ngoài ra, việc công chứng các giao dịch này còn giúp phát hiện những giao dịch đáng ngờ liên quan đến hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Thứ hai, việc hoàn thiện Cơ sở dữ liệu đất đai giúp cung cấp thông tin về người có quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản và tình trạng pháp lý của tài sản đó.
Tuy nhiên, dữ liệu không xác định được người ký có đủ năng lực hành vi tại thời điểm ký không; người ký có tự nguyện hay đang bị lừa dối, bị ép buộc; tài sản là đối tượng của giao dịch là tài sản chung của vợ chồng hoặc của hộ gia đình; nội dung thỏa thuận có vi phạm điều cấm của luật, có trái đạo đức xã hội không; các bên có hiểu đúng hậu quả pháp lý của điều khoản mình ký không. Công chứng viên khi thực hiện công chứng sẽ có nghĩa vụ hướng dẫn người yêu cầu công chứng thực hiện đúng các quy định về thủ tục công chứng và quy định của pháp luật có liên quan; giải thích cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của họ, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng; chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng mà mình thực hiện...
Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành sẽ giúp công chứng viên khai thác trực tiếp các thông tin đã được cơ quan nhà nước xác thực, qua đó giảm yêu cầu người dân phải nộp hoặc xuất trình giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm tính hợp pháp, tính xác thực và an toàn pháp lý của giao dịch. Do đó, việc phát huy giá trị pháp lý của dữ liệu và giá trị pháp lý của hoạt động công chứng là hai giải pháp có tính bổ trợ, không thay thế lẫn nhau.
Thứ ba, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng 2026 quy định:
“Giao dịch phải công chứng là giao dịch quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia giao dịch chặt chẽ, mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định phải công chứng”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Từ thời điểm này, các giao dịch phải công chứng chỉ được quy định trong các văn bản luật.
Thứ tư, nội dung chỉnh lý các quy định liên quan đến giao dịch phải công chứng trong dự thảo Luật chưa được đánh giá tác động, chưa có dự báo các tình huống có thể xảy ra đối với việc bảo đảm an toàn pháp lý của các giao dịch về quyền sử dụng đất; khả năng phát sinh các tranh chấp pháp lý liên quan; chi phí mà người sử dụng đất, chủ thể khác có liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể phải bỏ ra để giải quyết các tranh chấp phát sinh...
Với các lý do trên, Bộ Tư pháp đề xuất chỉnh lý quy định tại Điều 21 dự thảo Luật theo hướng giữ lại quy định phải công chứng đối với các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) như quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật Đất đai hiện hành.
Trên đây là ý kiến của Bộ Tư pháp đối với nội dung về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ Tư pháp gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật.
Trên đây là nội dung "Công văn 7580/BTP-BTTP về kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai theo hiện hành có nội dung nào?"

Công văn 7580/BTP-BTTP về kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai theo hiện hành có nội dung nào?
Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định như thế nào?
Căn cứ theo Điều 20 Luật Đất đai 2024 quy định về nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai.
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hợp tác quốc tế trong quản lý, sử dụng đất đai.
- Xác định địa giới đơn vị hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới đơn vị hành chính.
- Đo đạc, chỉnh lý, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất và các bản đồ chuyên ngành về quản lý, sử dụng đất.
- Điều tra, đánh giá và bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất đai.
- Lập, điều chỉnh, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Điều tra, xây dựng bảng giá đất, giá đất cụ thể, quản lý giá đất.
- Quản lý tài chính về đất đai.
- Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất.
- Phát triển, quản lý và khai thác quỹ đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính; cấp, đính chính, thu hồi, hủy giấy chứng nhận.
- Thống kê, kiểm kê đất đai.
- Xây dựng, quản lý, vận hành, khai thác Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Giải quyết tranh chấp đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai.
- Cung cấp, quản lý hoạt động dịch vụ công về đất đai.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Quy định về nhận quyền sử dụng đất hiện nay như thế nào?
Căn cứ theo Điều 28 Luật Đất đai 2024 thì quy định về nhận quyền sử dụng đất hiện nay như sau:
(1) Người nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:
- Cá nhân được nhận chuyển đổi quyền sử dụng đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Luật Đất đai 2024;
- Tổ chức kinh tế, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao;
- Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được nhận chuyển nhượng vốn đầu tư là giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ;
- Tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
- Tổ chức trong nước, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024;
- Tổ chức trong nước, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận thừa kế quyền sử dụng đất;
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam được mua, thuê mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở, nhận quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở; nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và các loại đất khác trong cùng thửa đất có nhà ở theo quy định của pháp luật về dân sự; nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở từ những người thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về dân sự;
- Tổ chức trong nước, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất; tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
- Tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất;
- Tổ chức trong nước, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng ổn định;
- Tổ chức trong nước, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật; văn bản về việc chia, tách quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật đối với nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất;
- Cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành; quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam;
- Tổ chức trong nước là pháp nhân mới được hình thành thông qua việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi mô hình tổ chức theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc văn bản về việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi mô hình tổ chức của tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật được nhận quyền sử dụng đất từ các tổ chức là pháp nhân bị chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi.
(2) Tổ chức trong nước, cá nhân được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào nơi cư trú, nơi đóng trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 45 Luật Đất đai 2024 và Điều 48 Luật Đất đai 2024.
(3) Đối với khu vực hạn chế tiếp cận đất đai thì việc nhận quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 28 Luật Đất đai 2024 thực hiện theo trình tự, thủ tục do Chính phủ quy định.
- Công văn 7580
- Kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai
- Giữ quy định phải công chứng giao dịch về đất đai
- Công chứng giao dịch về đất đai
- Phải công chứng giao dịch về đất đai theo hiện hành
- Bộ Tư pháp kiến nghị giữ quy định phải công chứng giao dịch về BĐS
- Công văn 7580 2026
- Công văn 7580 BTP BTTP 2026
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];