Không giao con cho vợ theo bản án sau khi ly hôn thì người chồng có phải đi tù hay không? Quy định cụ thể ra sao?
Theo quy định hiện nay, nếu bản án của Tòa án đã có hiệu luật trong đó có nội dung về việc người chồng phải giao con cho vợ chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng người chồng không thực hiện theo nội dung của bản án thì sẽ bị xử phạt, nghiêm trọng hơn là sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại Điều 65 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực thi hành án dân sự
...
3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định;
b) Không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;
c) Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án;
d) Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho cơ quan thi hành án dân sự.
Theo đó, người chồng không giao con cho vợ theo bản án sau khi ly hôn được xem làm hành vi không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp này, người chồng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Ngoài ra, tại Điều 380 Bộ luật Hình sự 2015 cũng có quy định:
Tội không chấp hành án
1. Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Chống lại chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Tẩu tán tài sản.
3. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Theo đó, nếu như người chồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không giao con cho vợ theo bản án sau khi ly hôn theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP nhưng vẫn tiếp tục vi phạm thì sẽ bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Ngoài ra, người chồng còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
>>XEM THÊM: Có bắt buộc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn hay không?
>>XEM THÊM: Mẫu đơn yêu cầu công nhận thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Không giao con cho vợ theo bản án sau khi ly hôn thì người chồng có phải đi tù hay không? Quy định cụ thể ra sao? (Hình từ Internet)
Sau khi ly hôn, người chồng giao con cho vợ nuôi dưỡng thì có được quyền thăm con không?
Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Theo đó, sau khi ly hôn và đã giao con cho vợ chăm sóc nuôi dưỡng, mặc dù không còn là người trực tiếp nuôi con, nhưng người chồng vẫn có quyền thăm nom con và không ai được cản trở quyền đó.
Tiền cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn là bao nhiêu?
Căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định như sau:
Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình
1. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.
2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
3. Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.
4. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Theo đó, các bên sẽ thỏa thuận với nhau về số tiền cấp dưỡng nuôi con, nếu như không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định mức tiền cấp dưỡng.
Trong trường hợp này, Tòa án sẽ căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];