Điểm mới thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 320 lần 2 ngày 21/09/2026 ra sao?

Phạm Thị Hồng 5,000 lượt xem
10:47 | 25/09/2026
Tại dự thảo quy định mới về thanh toán không dùng tiền mặt (lần 2), cụ thể như sau:
Nội dung chính
  1. Điểm mới thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 320 lần 2 ngày 21/09/2026 ra sao?
  2. Quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng trở lên theo Nghị định 144 ra sao?
  3. 09 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế

Điểm mới thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 320 lần 2 ngày 21/09/2026 ra sao?

Ngày 21/9/2026, Bộ Tài chính đã có Công văn 14841/BTC-CST năm 2026 gửi Bộ Tư pháp xin ý kiến thẩm định về dự án Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 320/2025/NĐ-CP.

Tải về Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa Nghị định 320/2025 (bản thẩm định)

Theo đó, tại dự thảo đề xuất quy định mới về thanh toán không dùng tiền mặt (lần 2), cụ thể như sau:

DỰ THẢO LẦN 2

HIỆN HÀNH (NĐ320)

1. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 320/2025/NĐ-CP

b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Đối với các trường hợp: Mua sản phẩm là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra; mua sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp của người sản xuất thủ công trực tiếp bán ra; mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt; mua đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp bán ra; mua hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (không bao gồm các trường hợp nêu trên) có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng phải có chứng từ chi trả tiền theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ cho người bán (đối với trường hợp giá trị mua hàng hóa, dịch vụ trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 05 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt) và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm.

Đối với trường hợp giá trị mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tài sản khác trong ngày của từng hộ gia đình, cá nhân (bao gồm cả hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh) quy định tại điểm này từ 05 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này;

Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 9 của Nghị định 320/2025/NĐ-CP

d) Quy định về thanh toán không dùng tiền mặt tại điểm b và điểm c khoản này không áp dụng đối với trường hợp doanh nghiệp trả lương và các khoản chi cho người lao động, thanh toán cho hộ gia đình, cá nhân (bao gồm cả hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại điểm b khoản này) mà tại thời điểm doanh nghiệp chi trả, thanh toán các đối tượng này có “Nơi ở hiện tại” theo quy định của pháp luật về cư trú thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 22 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư trong các trường hợp sau:

d1) Doanh nghiệp mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tài sản khác của hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp được lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ quy định tại điểm b khoản này;

d2) Doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp và các khoản chi khác cho người lao động;

d3) Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô thanh toán tiền lãi cho cá nhân, hộ gia đình.

b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Đối với các trường hợp: Mua sản phẩm là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra; mua sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, sõng, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp của người sản xuất thủ công trực tiếp bán ra; mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt; mua đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp bán ra; mua hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, hộ kinh doanh (không bao gồm các trường hợp nêu trên) có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng phải có chứng từ chi trả tiền theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ cho người bán (đối với trường hợp giá trị mua hàng hóa, dịch vụ trong ngày của từng hộ, cá nhân từ 05 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt) và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm;

>> So sánh đề xuất quy định về thanh toán không dùng tiền mặt (Lần 1)

>> Về sửa đổi, bổ sung điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo:

Để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, trên cơ sở tiếp thu ý kiến các bộ, ngành và các cơ quan liên quan, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ cho sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP theo hướng không áp dụng quy định về thanh toán không đùng tiền mặt khi doanh nghiệp trả lương cho người lao động, thanh toán cho hộ gia đình, cá nhân mà tại thời điểm đoanh nghiệp chỉ trả, thanh toán các đối tượng này có “Nơi ở hiện tại” theo quy định của pháp luật về cư trú thuộc địa bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư trong 03 trường hợp sau:

(i) Lập bảng kê khi mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tài sản khác của người dân (bao gồm hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng chịu thuế giá trị gia tăng).

Theo đó, khi mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tài sản khác của hộ gia đình, cá nhân (bao gồm hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng chịu thuế giá trị gia tăng) doanh nghiệp sẽ lập bảng kê thay cho hóa đơn đầu vào; trường hợp doanh nghiệp mua của hộ gia đình, cá nhân có giá trị thanh toản từng lần từ 05 triệu đồng trở lên mà các đối tượng này cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khàn, khó khăn thì để tính vào chi phí được trừ khoản chi này, doanh nghiệp không cần phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Ngoài ra, để đảm bảo rõ ràng, minh bạch, dự thảo Nghị định chỉnh sửa lại kỹ thuật trình bày tại điểm b khoản 1 mà không làm thay đổi nội dung điểm này.

(ii) Thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp và các khoản chi khác cho người lao động.

(iii) Quỹ tín dụng nhân đân, tổ chức tài chính vi mô thanh toán tiền lãi cho cá nhân, hộ gia đình.

Việc xác định địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 22 Nghị định 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư thì địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khó khăn đã bao gồm vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn biển đảo, biên giới.

Điểm mới thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 320 lần 2 ngày 21/09/2026 ra sao?

Điểm mới thanh toán không dùng tiền mặt tại dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 320 lần 2 ngày 21/09/2026 ra sao? (Hình từ Internet)

Quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt từ 5 triệu đồng trở lên theo Nghị định 144 ra sao?

Về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.

Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Nghị định 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/6/2026.

09 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế

Căn cứ theo Điều 48 Luật Quản lý thuế 2025 quy định về 9 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế từ ngày 1/7/2026 như sau:

(1) Người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.

(2) Người nộp thuế có tiền thuế nợ khi hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế.

(3) Người nộp thuế có tiền thuế nợ nhưng không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hoặc có hành vi phát tán tài sản.

(4) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, trừ trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt.

(5) Người nộp thuế đã bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra thuế nhưng tiếp tục không chấp hành quyết định kiểm tra thuế.

(6) Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với khoản nợ của người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế không tính tiền chậm nộp theo quy định; được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ và trong thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực. Việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.

(7) Không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế có nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh.

(8) Cơ quan thuế không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với số tiền thuế nợ được bù trừ qua hoàn thuế mà cơ quan thuế đang làm thủ tục bù trừ cho người nộp thuế.

(9) Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế căn cứ tình hình thực tế để quyết định trường hợp thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

LƯU Ý: Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Quản lý thuế 2025.

Phạm Thị Hồng
Phạm Thị Hồng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Doanh nghiệp Xem thêm

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Phân cấp công trình đối với công trình hồ chứa quặng đuôi như thế nào? Về năng lực của cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì như nào?

Công ty có phát sinh thực hiện thi công hồ chứa thải quặng đuôi, gồm phần đập và lòng hồ, công ty áp dụng tiêu chí của công trình thủy lợi để xác định cấp công trình của hồ chứa quặng đuôi được hay không? Người chủ trì, chủ nhiệm thiết kế có bắt buộc phải có chuyên môn về thủy lợi hay không?