Nếu thỏa thuận hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán thì được trả lương theo quý. Người lao động được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
>> Hộ kinh doanh có phải nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động 6 tháng đầu năm 2026 không?
>> Doanh nghiệp có bắt buộc nộp báo cáo tình hình sử dụng lao động không?
Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên. Do đó nếu thỏa thuận hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán thì được trả lương cho người lao động theo quý. Trường hợp, công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
Căn cứ khoản 3 Điều 97 Bộ luật lao động 2019 quy định trả lương cho người lao động 2026 như sau:
Điều 97. Kỳ hạn trả lương
1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.
2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.
3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
…
Theo đó, người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên.
Như vậy, nếu có thỏa thuận người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán thì được trả lương theo quý. Trường hợp này, người lao động được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.
Trên đây là giải đáp có được trả lương cho người lao động theo quý?
Trả lương cho người lao động theo quý (Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày.
Cụ thể theo quy định tại tại khoản 4 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định về trường hợp chậm trả lương như sau:
Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.
Như vậy, doanh nghiệp chỉ được phép trả chậm lương khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Lý do bất khả kháng: Doanh nghiệp gặp phải các sự kiện bất khả kháng (như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm,...) mà không thể kiểm soát được.
- Đã tìm mọi biện pháp khắc phục: Doanh nghiệp đã nỗ lực hết sức và áp dụng mọi giải pháp nhưng vẫn không thể xoay xở để trả lương đúng hạn.
Thời gian chậm lương tối đa: Không được quá 30 ngày.
Để được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN thì doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật thuế TNDN. Trong đó, có quy định về thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản thanh toán từng lần có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên (bao gồm cả khoản chi tiền lương, tiền công cho người lao động).
Hay nói cách khác, đối với khoản thanh toán tiền lương từ 5 triệu đồng trở lên thì bắt buộc phải thực hiện chuyển khoản cho từng lần thanh toán.
Xem chi tiết tại bài viết: Quy định về tiền lương 5 triệu phải chuyển khoản



