Không gắn nhãn video hình ảnh AI có bị xử lý Hình sự không?

582 lượt xem
11:37 | 31/07/2026
Từ ngày 01/3/2026, Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 đặt ra nghĩa vụ minh bạch đối với một số nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa. Việc không gắn nhãn video, hình ảnh AI có thể bị xử lý thế nào? Bài viết phân tích nghĩa vụ thông báo, gắn nhãn, xử phạt hành chính và các trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành năm 2026.
Nội dung chính
  1. Video, hình ảnh AI nào phải thông báo hoặc gắn nhãn?
  2. Không gắn nhãn video, hình ảnh AI bị xử phạt hành chính ra sao?
  3. Khi nào việc tạo, đăng tải nội dung AI có thể bị xử lý hình sự?

Bài viết với sự chia sẻ chuyên môn từ Luật sư Trần Viết Hà – Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV Hà và Cộng Sự, sẽ giúp làm rõ các quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụ thông báo, gắn nhãn nội dung AI; trách nhiệm hành chính, dân sự và những trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành năm 2026.

Không gắn nhãn video hình ảnh AI có bị xử lý Hình sự không?

Không gắn nhãn video hình ảnh AI có bị xử lý Hình sự không?

Video, hình ảnh AI nào phải thông báo hoặc gắn nhãn?

Căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, bên triển khai phải thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật hoặc nguồn gốc. Đối với âm thanh, hình ảnh, video mô phỏng ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, phải gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, “bên triển khai” là tổ chức, cá nhân sử dụng AI trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ, không bao gồm sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại. Tuy nhiên, người dùng cá nhân khi công khai nội dung vẫn phải tuân thủ pháp luật về thông tin trên mạng, quyền đối với hình ảnh, danh dự, tài sản và pháp luật hình sự.

Việc chỉnh sáng, khử nhiễu, tăng độ nét mà không làm thay đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính thuộc trường hợp loại trừ. Ngược lại, khoản 5 Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 nghiêm cấm che giấu thông tin bắt buộc phải minh bạch hoặc tẩy xóa, làm sai lệch nhãn, cảnh báo bắt buộc.

Không gắn nhãn video, hình ảnh AI bị xử phạt hành chính ra sao?

Khoản 1 Điều 29 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 quy định người vi phạm, tùy tính chất, mức độ và hậu quả, có thể bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại.

Nghị định 174/2026/NĐ-CP không quy định riêng một hành vi có tên “không gắn nhãn nội dung AI”. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào việc thiếu nhãn để mặc nhiên áp dụng Điều 95. Điều này chỉ được xem xét khi nội dung đăng tải đồng thời là thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm hoặc thuộc hành vi vi phạm cụ thể khác.

Theo điểm a khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, tổ chức cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm trên mạng xã hội có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; cá nhân bị phạt bằng một nửa.

Trường hợp thông tin sai sự thật gây hoang mang, thiệt hại hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp mà chưa đến mức hình sự, điểm c khoản 2 Điều 95 quy định mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với tổ chức; cá nhân bằng một nửa. Biện pháp khắc phục có thể gồm gỡ bỏ nội dung và, đối với khoản 2, khóa tài khoản, trang, nhóm hoặc kênh nội dung.

Khi nào việc tạo, đăng tải nội dung AI có thể bị xử lý hình sự?

Không gắn nhãn video, hình ảnh AI không phải là một tội danh độc lập. Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi việc tạo, chỉnh sửa, công bố hoặc sử dụng nội dung AI thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của một tội phạm cụ thể.

Tùy mục đích và hậu quả, người sử dụng AI có thể bị xem xét về:

- Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), nếu dùng nội dung giả mạo để xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; sử dụng phương tiện điện tử là tình tiết định khung.

- Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), nếu bịa đặt hoặc loan truyền điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), nếu dùng deepfake, giả giọng nói hoặc giả khuôn mặt làm thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản và đáp ứng điều kiện định tội.

- Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), nếu việc đưa thông tin trái pháp luật lên mạng đáp ứng các điều kiện định tội của điều luật.

Do đó, việc xử lý hình sự phải căn cứ mục đích, lỗi, nội dung, phạm vi phát tán, hậu quả và dấu hiệu định tội tương ứng; không thể suy diễn từ việc thiếu nhãn AI.

Luật sư Trần Viết Hà

Bài viết được tư vấn bởi

Luật sư Trần Viết Hà

Công ty Luật TNHH MTV Hà và Cộng sự

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Bài viết mới nhất