Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?

Bùi Đặng Hương Quyên
11:15 | 21/09/2026
Dưới đây là thông tin về các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT.
Nội dung chính
  1. Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?
  2. Việc ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá phải bảo đảm các yêu cầu gì?
  3. Nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được quy định như thế nào?

Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?

Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp bao gồm:

- Xây dựng, quản lý ngân hàng câu hỏi, đề thi;

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và chấm điểm;

- Giám sát quá trình kiểm tra, đánh giá;

- Lưu trữ, quản lý và khai thác dữ liệu đánh giá; phân tích kết quả học tập và đánh giá năng lực người học.

Căn cứ theo khoản 3 Điều 7 Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT quy định các hoạt động chủ yếu ứng dụng công nghệ trong kiểm tra đánh giá người học tại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp như sau:

Ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá người học
1. Cơ sở giáo dục chủ động ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong kiểm tra, đánh giá người học bảo đảm tính chính xác, khách quan, minh bạch và công bằng; phù hợp với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, bảo đảm quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và tuân thủ quy định của pháp luật.
2. Việc ứng dụng công nghệ được thực hiện phù hợp thông qua các phương thức sau:
a) Kiểm tra, đánh giá trực tiếp có hỗ trợ công nghệ;
b) Kiểm tra, đánh giá trực tuyến;
c) Kiểm tra, đánh giá kết hợp trực tiếp và trực tuyến;
d) Đánh giá quá trình học tập trên hệ thống số dựa trên dữ liệu và phân tích dữ liệu học tập;
đ) Các phương thức khác có ứng dụng công nghệ phù hợp.
3. Ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá được thực hiện trong các hoạt động chủ yếu sau:
a) Xây dựng, quản lý ngân hàng câu hỏi, đề thi;
b) Tổ chức kiểm tra, đánh giá và chấm điểm;
c) Giám sát quá trình kiểm tra, đánh giá;
d) Lưu trữ, quản lý và khai thác dữ liệu đánh giá; phân tích kết quả học tập và đánh giá năng lực người học;
...

* Trên đây là thông tin về "Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?"

Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?

Các hoạt động ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì? (Hình từ Internet)

>>> Phương thức, hoạt động ứng dụng công nghệ trong hoạt động đào tạo tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp là gì?

>>> Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học giáo dục nghề nghiệp là gì?

Việc ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá phải bảo đảm các yêu cầu gì?

Căn cứ theo khoản 4 Điều 7 Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT quy định về các yêu cầu cần bảo đảm khi ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá người học như sau:

- Có hệ thống quản lý kiểm tra, đánh giá hoặc được tích hợp trong hệ thống quản lý học tập;

- Kết quả kiểm tra, đánh giá được thực hiện trên môi trường số phải được lưu trữ, có khả năng truy xuất, kiểm chứng, phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và giải trình theo quy định;

- Bảo đảm tính tương đương giữa các hình thức đánh giá; có cơ chế giải trình, phúc tra kết quả;

- Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trên cơ sở hỗ trợ, có kiểm soát, không thay thế vai trò của giảng viên; minh bạch, tuân thủ quy định về liêm chính học thuật.

Nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 4 Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT quy định về nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp như sau:

Nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Việc ứng dụng công nghệ trong cơ sở giáo dục tuân thủ các nguyên tắc sau:
1. Bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở giáo dục, gắn với tự kiểm soát, minh bạch và trách nhiệm giải trình, tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan.
2. Ứng dụng công nghệ phải lấy người học làm trung tâm; phục vụ thực hiện chương trình đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định; công nghệ và trí tuệ nhân tạo là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm chuyên môn và trách nhiệm học thuật của cơ sở giáo dục, giảng viên và người học.
3. Gắn với việc tạo lập, phát triển, quản lý và khai thác dữ liệu hiệu quả, phục vụ quản trị, điều hành, phân tích, dự báo và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục.
4. Tuân thủ kiến trúc số do cơ quan có thẩm quyền ban hành; bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu; tránh đầu tư phân tán, cục bộ, trùng lắp trong quá trình ứng dụng công nghệ.
5. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân; sử dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và bảo đảm liêm chính học thuật.

Như vậy, việc ứng dụng công nghệ trong cơ sở giáo dục tuân thủ các nguyên tắc bao gồm:

- Bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở giáo dục, gắn với tự kiểm soát, minh bạch và trách nhiệm giải trình, tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan.

- Ứng dụng công nghệ phải lấy người học làm trung tâm; phục vụ thực hiện chương trình đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định; công nghệ và trí tuệ nhân tạo là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm chuyên môn và trách nhiệm học thuật của cơ sở giáo dục, giảng viên và người học.

- Gắn với việc tạo lập, phát triển, quản lý và khai thác dữ liệu hiệu quả, phục vụ quản trị, điều hành, phân tích, dự báo và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục.

- Tuân thủ kiến trúc số do cơ quan có thẩm quyền ban hành; bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu; tránh đầu tư phân tán, cục bộ, trùng lắp trong quá trình ứng dụng công nghệ.

- Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân; sử dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức và bảo đảm liêm chính học thuật.

Logo Thư viện Pháp luật
Bùi Đặng Hương Quyên Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Giáo dục Xem thêm

Pháp luật
Thông báo 519/TB-VPCP ngày 7/10/2026 về tháo gỡ điểm nghẽn lĩnh vực giáo dục và đào tạo có nội dung nào?

Nội dung kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về tháo gỡ các điểm nghẽn trong xã hội hóa giáo dục, làm việc, đối thoại với một số doanh nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo được nêu rõ tại Thông báo 519/TB-VPCP năm 2026 cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất

Pháp luật
TP.Hồ Chí Minh khai mạc Ngày hội Công dân số năm 2026, lan tỏa tinh thần học tập suốt đời

(Hochiminhcity.gov.vn) - Ngày 9/10, tại Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.Hồ Chí Minh (số 123 Trương Định, phường Xuân Hòa), UBND TP.Hồ Chí Minh tổ chức Ngày hội Công dân số TP.Hồ Chí Minh năm 2026 và Lễ phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026, hướng đến Ngày Chuyển đổi số quốc gia 10/10.