Theo Tổng cục thống kê kết quả điều tra dân số, tổng dân số Việt Nam năm 2025 là bao nhiêu?
Tổng cục Thống kê công bố đầu tháng 1 vừa qua, theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024 dân số Việt Nam thời điểm 1-4-2024 là hơn 101,1 triệu người. Dân số nam là 50,6 triệu người, chiếm 49,9% và nữ là 50,7 triệu người, chiếm 50,1%.
Theo đó, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và thứ 16 trên thế giới.
Với dự báo về mức tăng dân số hàng năm, dân số Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 102 triệu người.
Theo thông tin từ nguồn tham khảo (https://vnpa.moh.gov.vn/):
Dân số thành thị đạt 38,6 triệu người, chiếm 38,2%; dân số nông thôn đạt 62,5 triệu người, chiếm 61,8%.
Cả nước có hơn 28,1 triệu hộ dân cư, tăng gần 1,3 triệu hộ so với năm 2019, tăng 3,9 triệu hộ so với năm 2014.
Nước ta có 19 tỉnh với quy mô dân số nhỏ, dưới 1 triệu người; 37 tỉnh có quy mô dân số từ 1 đến 2 triệu người; 7 tỉnh có quy mô dân số trên 2 triệu người.
Riêng Hà Nội và TP HCM là 2 thành phố có quy mô dân số lớn nhất. Dân số Hà Nội đạt gần 8,7 triệu người; TP HCM hơn 9,5 triệu người. Bắc Kạn ít dân nhất với 328.600 người, chênh lệch hơn 29 lần so với TP HCM.
Trên đây là giải đáp thắc mắc cho câu hỏi "Tổng dân số Việt Nam năm 2025 là bao nhiêu?". Nội dung chỉ mang tính chất tham khảo, quý khách lưu ý khi sử dụng.
![]() |
File Word Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn mới nhất [cập nhật ngày 21/10/2024] |

Tổng dân số Việt Nam năm 2025 là bao nhiêu? (Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 10 Pháp lệnh dân số 2003 quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình như sau:
Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình - Pháp lệnh dân số 2003
1. Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền:
a) Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ, điều kiện học tập, lao động, công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng;
b) Lựa chọn, sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình.
2. Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp tránh thai;
b) Bảo vệ sức khoẻ và thực hiện các biện pháp phòng, tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS;
c) Thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.
Căn cứ theo Điều 145 Bộ luật Lao động 2019 quy định về sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc như sau:
Điều 145. Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc
1. Khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:
a) Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
b) Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
c) Phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 06 tháng;
d) Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
2. Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật này.
3. Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết Điều này.

