- Khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua những hình thức nào?
- Phương thức chia sẻ, kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được quy định như thế nào?
- Việc quản lý và bảo vệ cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện như thế nào?
Khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua những hình thức nào?
Căn cứ theo khoản 5 Điều 13 Nghị định 160/2026/NĐ-CP quy định các hình thức khai thác sử dụng thông tin dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự như sau:
Khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự
...
4. Cơ quan có chức năng, nhiệm vụ cung cấp thông tin, tài liệu lưu trữ về thi hành án hình sự có quyền từ chối yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu nếu có căn cứ cho rằng yêu cầu đó trái pháp luật, vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp.
5. Các hình thức khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự gồm:
a) Qua kết nối, chia sẻ dữ liệu trực tuyến giữa các hệ thống thông tin;
b) Qua mạng máy tính nội bộ;
c) Bằng văn bản hoặc phiếu đề nghị cung cấp.
6. Việc khai thác và sử dụng dữ liệu phải được thực hiện theo quy trình thống nhất, bảo đảm:
a) Xác định rõ mục đích, phạm vi và nội dung dữ liệu cần khai thác;
b) Kiểm soát việc truy cập và khai thác dữ liệu theo cơ chế phân quyền;
c) Ghi nhận và lưu vết việc khai thác dữ liệu để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát;
d) Bảo đảm dữ liệu được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền và đúng phạm vi thông tin được khai thác và không làm lộ, lọt thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc dữ liệu cá nhân nhạy cảm.
...
Như vậy, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua những hình thức:
(1) Qua kết nối, chia sẻ dữ liệu trực tuyến giữa các hệ thống thông tin;
(2) Qua mạng máy tính nội bộ;
(3) Bằng văn bản hoặc phiếu đề nghị cung cấp.

Khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua những hình thức nào? (Hình từ Internet)
Phương thức chia sẻ, kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được quy định như thế nào?
Căn cứ theo Điều 12 Nghị định 160/2026/NĐ-CP quy định về các phương thức chia sẻ, kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự như sau:
(1) Việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu được thực hiện thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, giao diện lập trình ứng dụng hoặc phương thức kỹ thuật khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm đúng phạm vi, mục đích, thẩm quyền, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
(2) Việc kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của các tổ chức, cá nhân cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thông qua hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
(3) Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về thi hành án hình sự phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
- Dữ liệu được chia sẻ theo đúng phạm vi, mục đích và thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khai thác dữ liệu;
- Việc chia sẻ dữ liệu được thực hiện thông qua các phương thức kết nối điện tử, bảo đảm khả năng truy cập, trao đổi và đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin;
- Dữ liệu được kiểm tra, xác thực trước khi thực hiện chia sẻ để bảo đảm tính chính xác và toàn vẹn của dữ liệu;
- Việc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.
Việc quản lý và bảo vệ cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 11 Nghị định 160/2026/NĐ-CP quy định về việc quản lý và bảo vệ cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự như sau:
(1) Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được quản lý, bảo vệ chặt chẽ, an toàn theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, giao dịch điện tử và pháp luật khác có liên quan.
(2) Cơ quan được giao quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự có trách nhiệm tổ chức quản trị, vận hành hệ thống và bảo đảm an ninh mạng theo quy định của pháp luật.
(3) Các cơ quan, đơn vị được phân quyền cập nhật dữ liệu có trách nhiệm cập nhật thông tin, dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời.
(4) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng dữ liệu có trách nhiệm sử dụng dữ liệu đúng mục đích, đúng thẩm quyền và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng.
(5) Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải được bảo đảm an toàn, vận hành thông suốt, việc sao lưu dữ liệu thực hiện theo quy định tại Điều 10 Nghị định 160/2026/NĐ-CP.
(6) Việc quản lý và bảo vệ cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua các biện pháp sau đây:
- Phân quyền truy cập và khai thác dữ liệu theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị;
- Kiểm soát việc truy cập, khai thác, chỉnh sửa dữ liệu trong hệ thống cơ sở dữ liệu;
- Ghi nhận và lưu vết các hoạt động truy cập, cập nhật, khai thác dữ liệu để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát;
- Áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo đảm an ninh mạng đối với hệ thống cơ sở dữ liệu;
- Kiểm tra, đánh giá định kỳ ít nhất 01 lần/quý việc bảo đảm an toàn, an ninh đối với cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự; trường hợp cần thiết thực hiện kiểm tra đột xuất theo yêu cầu quản lý.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];