Công văn 2004/TCS13-NVDTPC về thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, minh bạch doanh thu ra sao?

10:35 | 22/05/2026
Ngày 18/5/2026, Thuế cơ sở 13 tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn 2004/TCS13-NVDTPC năm 2026 thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, minh bạch doanh thu nhắm nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Nội dung chính
  1. Công văn 2004/TCS13-NVDTPC về thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, minh bạch doanh thu ra sao?
  2. Đã nộp tờ khai quý I/2026 theo ngưỡng cũ HKD có phải kê khai lại khi áp dụng ngưỡng mới?
  3. 09 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế từ ngày 1/7/2026 ra sao?

Công văn 2004/TCS13-NVDTPC về thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, minh bạch doanh thu ra sao?

Ngày 18/5/2026, Thuế cơ sở 13 tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn 2004/TCS13-NVDTPC năm 2026 thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, minh bạch doanh thu nhắm nâng cao hiệu quả quản lý thuế.

TẢI VỀ Công văn 2004/TCS13-NVDTPC năm 2026

Theo đó, Công văn 2004/TCS13-NVDTPC năm 2026 về cảnh báo rủi ro khi thanh toán không tiền mặt, minh bạch doanh thu, cụ thể như sau:

1. Đối với cá nhân (Người tiêu dùng, người mua hàng):

- Khó khăn khi giài quyết tranh chấp: Khi mua hảng già trị lớn mà không có hóa đơn, chứng từ thanh toán không đùng tiền mặt, người tiêu đùng sẽ rất khó chứng minh nguồn gốc tải sản, quyển sở hữu hoặc yêu cầu bảo hành, đổi trả khi xảy ra tranh chấp.

- Không có hóa dơn bợp pháp: Nếu người bán khóng xuất hóa đơn, mà người mua vẫn thanh toán tiển mặt, thì giao dịch đó không dược ghi nhận hợp pháp. Khi cơ quan thuế kiểm tra, có thể hị xem là giao dịch không minh bạch, trốn thuế.

- Nguy cơ bị coi là tiếp tay trốn thuế: Trong trường hợp người bán cố tỉnh không| kê khai đoanh thu, không nộp thuế, ngưới mua biết rõ nhưng vẫn chầp nhận thanh toán tiền mặt, thì có thể bị coi là tiếp tay cho hành vi trốn thuề, dẫn dến rủi ro pháp lý khi co quan chức năng điều tra mở rộng các vụ án trốn thuế, rửa tiền hoặc buôn lậu.

- Mất quyền lợi bảo vệ người tiêu đúng: Người mua không có hóa đơn, chứng từ thanh toán sẽ không dủ diều kiện pháp lý để khiếu nại lên Hội Bảo vệ Người tiều dúng hoặc khởi kiện ra tòa àn khi hàng hóa bị lỗi, kém chất lrợng.

2. Đổi với doanh nghiệp, tổ chức:

- Không được tínb chi phí được trữ khi xác dịnh tbuế TNDN: Theo quy định tại Luật Thuế thu nhập đoanh nghiệp thì các khoán chi từ 5 triệu đồng trờ lên (đã bao gồm thuế GTGT và có hóa dơn hợp phàp) phải có chứng từ thanh toân không dùng tiền mặt mới được tính vào chi phí dược trù khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy dịnh.

- Không được khấu trừ hoặc boàn thuế GTGT: Theo Luật Thuế GTGT, khoán mua hàng hóa, địch vụ (bao gốm cả háng hòa nhập khấu) từ 5 triệu đống trở lên (dã bao gồm thuế GTGT và có hóa đơn hợp pháp) phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được khấu trừ thuế đầu vào.

- Đễ bị nghí ngờ trốn thuế hoặc kê khai sai đoanh thu: Thanh toán bằng tiến mặt khó kiếm chúng, không cô dấu vết giao địch điện tử, để bị cơ quan thuế đánh già là thiếu minh bạch hoặc có đấu hiệu gian lận. Đoanh nghiệp có thể bị ấn định thuế, truy thu, phạt chậm nộp và xử phạt vi phạm hanh chính.

Theo quy định của Luật Quản lý thuế, các tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm kê khai đấy dủ, trung thực doanh thu phàt sinh để làm căn cử tinh thuế. Việc cố tình yêu cầu khàch không ghỉ nội đung hoặc chỉ nhận tiến mặt nhầm che giấu giao dịch thực tế là hinh thức gian lận thuế, nếu bị phát hiện, người vi phạm có thể đối mặt với nguy cơ bị xử phạt hành chính. Rủi ro khi sử dụng hóa dơn và chứng từ:

Nều doanh nghiệp thanh toán liển mặt cho những giao địch lớn, cơ quan thuế có thể kiềm tra hóa dơn, hợp đống và chứng từ thanh toán. Trường hợp không chứng minh dược tinh thực tể của giao dịch, hóa đơn đó có thế bị coi là hóa đơn không hợp pháp, đẫn đến xử phạt hoặc truy thu thuế GTGT và TNDN.

- Nguy cơ bị xử lý hinh sự nếu có đấu hiệu gian lận: hành vi cố tình sứ đụng tiều mặt để trốn thuế, hợp thức hóa hóa đơn giá, khai man chỉ phí đạt mức quy dịnh, người vi phạm (hoặc dại điện phháp luật của doanh nghiệp) sẽ bị khởi tổ hình sụ theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015.

3. Hộ kinb đoanb, cá nbân kinh doanb: Nếu Hộ kinh doanh cố tỉnh từ chối thanh toán bằng chuyển khoản, chỉ nhận tiến mặt nhằm né” thuế, cố tỉnh che giấu đoảnh thu, kê khai thuế không trung thực, đầy đủ sẽ bị xứ lý truy thu, ấn định thuế, xủ phạt hành vi khai sai, trốn thuế hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đây là hảnh vi vi phạm pháp luật, thể hiện sự thiếu ý thức trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài chính công. Theo quy định tại Luật Quăn lý thuế thì trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Khó khăn trong quần trị, vận hành và mất uy tin kinb đoanb: Việc không sử dụng hình thức thanh toăn khòng dùng tiến mặt, yêu cầu khàch háng dùng tiền mặt gây phiền toài, làm mất khách hàng và giảm sức cạnh tranh.

Dữ liệu thu chi không minh bạch khiến chủ hộ kính doanh mất khả năng kiểm soát tài chính thực tế, không có chứng từ hợp lệ (hóa đơn, sao kê ngân hàng) khi cần vay vốn ngân háng, mớ rộng quy mô hoặc chứng minh năng lực tài chính.

- Truy (bu thuế đối với pbấn đoanh tbu, tbu nhập dã che giấu hoặc khai tbiểu, khai sai căn cứ tính thuế: Kê khai sai đoanh thu, chi phí, hoặc số tiền thuế dược khẩu trừ, miễn, giảm, hoán, đủ các nghiệp vụ kinh tế dã dược ghi nhận đầy dủ trên số kế toản và chứng tửhợp pháp theo quy định.

- Ấn định thuế nếu hộ kinb doanh không cung cấp được hồ sơ, chứng từ chứng minb tínb cbinb xác của việc kê khai: Không khai thuế hoặc kê khai thuế không đấy đủ, trung thựe, chính xác theo quy định tại Luật Quản lý thuế và bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành ví khai saí, trốn thnế, gian lận thnế.

- Hành vi né tránh tbanh toán chuyền khoản để "giấu doanh tbu" dược cơ quan chức năng liệt vào danh sách càc hành vi có đấu hiệu vi phạm phàp luật nghiêm trọng: Cơ quan Thuế hiện nay phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an và Ngân háng. Việc giao dịch nhận tiển mặt có hệ thống nhưng không kê khai sẽ dễ đáng bị phát hiện thông qua đối chiếu tài khoản, đòng tiển thực tế vá hồ sơ khai thuế.

- Nguy cơ bị xứ lý hinh sự nếu có dấu hiệu gian lận: Theo Điểu 200 Bộ luật Hình sự quy định về tội “trốn thuế”, hành vi cố tình sử dụng tiền mặt đề trốn thnế, hợp thức hóa hóa đơn giả, khai man chỉ phí có thế bị truy cứu tràch nhiệm hình sự, với mức phạt từ phạt tiền đến phạt tù nếu thuộc trong một số trưởng hợp nghiêm trọng.

Việc thanh toân bằng tiền mặt tiềm ẩn nhiều rủi ro ph p lý và quân lý đối với cả người đân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp, như khó chứng minh giao địch, không dược khấu trừ chi phí hợp lệ, hoặc dễ bị nghi ngờ liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận hóa đơn.

Do dó, người nộp thuế nên ưu tiên thanh toán không dũng tiền mặt (qua tài khoán ngân hâng, quét mã QR, thẻ, ví điện từ,...) để: Đàm bảo tình minh bạch và hợр pháp của giao địch; Bào vệ quyền lợi hợp pháp khi có tranh chấp hoặc kiếm tra thuế; Gộp phấn hiện dại hóa công tác quản lý thuế, xây đựng môi trường kinh đoanh công bằng, lành mạnh.

Ngày 18/5/2026, Thuế cơ sở 13 tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn 2004/TCS13-NVDTPC năm 2026 thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, minh bạch doanh thu nhắm nâng cao hiệu quả quản lý thuế (Hình từ Internet)

Đã nộp tờ khai quý I/2026 theo ngưỡng cũ HKD có phải kê khai lại khi áp dụng ngưỡng mới?

Vừa qua, trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính đã có giải đáp về vấn đề này. Cụ thể như sau:

Câu hỏi:

Vừa qua, ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ kinh doanh đã được nâng lên 1 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, hiện có nhiều hộ kinh doanh trước đây thuộc nhóm phải kê khai thuế theo quý theo ngưỡng cũ, đã nộp tờ khai quý I/2026, nhưng theo quy định mới lại thuộc nhóm không phải kê khai.

Hiện nay, trên mạng xã hội và một số trang thông tin pháp luật có nhiều hướng dẫn khác nhau như đề nghị hộ kinh doanh xin hủy tờ khai hoặc khai bổ sung doanh thu bằng 0 đồng. Điều này dẫn đến việc mỗi nơi áp dụng khác nhau, gây lúng túng cho hộ kinh doanh.

Tôi xin hỏi: Trường hợp các hộ đã nộp tờ khai quý I/2026 theo ngưỡng cũ nhưng nay thuộc diện áp dụng ngưỡng mới, thì cần thực hiện thủ tục gì tiếp theo và có phải tiếp tục kê khai thuế theo quý hay không?

Trả lời vấn đề này:

Thuế cơ sở 9 tỉnh An Giang nhận được câu hỏi mã số: 080526-21 trên Công Dịch vụ công Quốc gia của ông Nguyễn Bảo Hậu về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh (HKD), cá nhân kinh doanh (CNKD). Về vấn đề này, Thuế cơ sở 9 có ý kiến trả lời như sau:

1. Về ngưỡng doanh thu không chịu thuế

Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Nghị định 141/2026/NĐ-CP ngày 29/04/2026, Chính phủ dã nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN đối với HKD, CNKD từ 500 triệu đồng lên 01 tỷ đồng/năm.

2. Hướng dẫn xử lý đối với trường hợp đã nộp tờ khai Quý I/2026:

Trường hợp HKD, CNKD có doanh thu năm 2026 dự kiến dưới 01 tỷ đồng nhưng đã nộp tờ khai mẫu 01/CNKD trong Quý I/2026 thì thực hiện như sau:

Về kê khai: Lập tờ khai bổ sung để điều chỉnh doanh thu tính thuế GTGT, và TNCN về bằng 0 (không). Hoặc gửi thông báo hủy tờ khai đến cơ quan thuế.

Lưu ý khi hủy tờ khai: HKD phải nộp Thông báo các số tài khoản thanh toán, số hiệu ví điện tử liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo Mẫu số 01/BK-STK.

- Về sổ sách kế toán: Kể từ ngày 29/04/2026, HKD đang sử dụng mẫu sổ S2a-HKD phải chuyển sang sử dụng Sổ doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ (Mẫu số Sla-HKD) và Sổ theo dõi nghĩa vụ thuế khác, nếu có (Mẫu số S3a-HKD) ban hành kèm theo Thông tư 152/2025/TT-BTC.

3. Về sử dụng hóa đơn và báo cáo doanh thu:

- HKD, CNKD đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử phải xuất hóa đơn cho mọi giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ (bao gồm cả bán lẻ cho người mua không lấy hóa đơn).

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 4 Nghị định 141/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:

Điều khoản chuyển tiếp
1. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.
2. Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý I năm 2026 mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị định này thì không phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp các quý tiếp theo, được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa.
3. Trường hợp kỳ tính thuế năm 2025 có thời điểm kết thúc sau ngày 01 tháng 01 năm 2026 mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị định này thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho thời gian tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 đến hết kỳ tính thuế năm 2025. Số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn thuế của kỳ tính thuế năm 2025 quy định tại khoản này bằng tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2025 chia cho 12 tháng (hoặc số tháng thực tế hoạt động của kỳ tính thuế năm 2025 đối với trường hợp doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2025) và nhân với số tháng của kỳ tính thuế năm 2025 thuộc năm dương lịch 2026. Từ kỳ tính thuế năm 2026 thực hiện theo quy định tại Điều 2 Nghị định này.

Theo đó, trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng thì được hoàn thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa.

09 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế từ ngày 1/7/2026 ra sao?

Căn cứ theo Điều 48 Luật Quản lý thuế 2025 quy định về 9 trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế từ ngày 1/7/2026 như sau:

(1) Người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.

(2) Người nộp thuế có tiền thuế nợ khi hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế.

(3) Người nộp thuế có tiền thuế nợ nhưng không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hoặc có hành vi phát tán tài sản.

(4) Người nộp thuế không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo thời hạn ghi trên quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế, trừ trường hợp được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định xử phạt.

(5) Người nộp thuế đã bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra thuế nhưng tiếp tục không chấp hành quyết định kiểm tra thuế.

(6) Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với khoản nợ của người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế không tính tiền chậm nộp theo quy định; được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ và trong thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực. Việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.

(7) Không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế có nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh.

(8) Cơ quan thuế không thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với số tiền thuế nợ được bù trừ qua hoàn thuế mà cơ quan thuế đang làm thủ tục bù trừ cho người nộp thuế.

(9) Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế căn cứ tình hình thực tế để quyết định trường hợp thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

LƯU Ý: Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Quản lý thuế 2025.

Phạm Thị Hồng
Phạm Thị Hồng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thương mại Xem thêm

Bài viết mới nhất