Tháng 8/2026, lĩnh vực đất đai có nhiều chính sách mới đáng chú ý, nổi bật là các quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và định hướng tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện Luật Đất đai nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn quản lý, sử dụng đất. Dưới đây là các chính sách mới về đất đai có hiệu lực trong tháng 8/2026.
Chính sách mới về đất đai trong tháng 8/2026 chi tiết ra sao?
(1) Một trong những nội dung đáng chú ý là trường hợp vợ và chồng có chung quyền sử dụng đất thì áp dụng xử phạt vi phạm hành chính như đối với một cá nhân (Điều 1 Nghị định 281/2026/NĐ-CP)
Trước đây, Nghị định 123/2024/NĐ-CP chưa có quy định riêng đối với trường hợp vợ chồng cùng có quyền sử dụng đất. Nghị định chỉ quy định cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư và tổ chức là các đối tượng bị xử phạt, trong đó hộ gia đình và cộng đồng dân cư bị xử phạt như đối với cá nhân (điểm b Điều 2 Nghị định 123/2024/NĐ-CP)
Theo quy định mới, nếu hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng thì việc xác định mức xử phạt được áp dụng như đối với một cá nhân. Tuy nhiên, tùy từng hành vi vi phạm, người vi phạm vẫn có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc đăng ký đất đai, khôi phục tình trạng ban đầu của đất, nộp lại số lợi bất hợp pháp hoặc thực hiện các biện pháp khác theo quy định.
(2) Bên cạnh đó, Điều 2 Nghị định 281/2026/NĐ-CP cũng bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi sử dụng giấy tờ đất bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc giấy tờ giả. Theo đó:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm;
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của mốc địa giới đơn vị hành chính;
- Buộc thực hiện lại thủ tục hành chính về đất đai;
- Buộc nộp lại các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng.
Đáng chú ý, thay vì áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu giấy tờ giả hoặc giấy tờ bị tẩy xóa như trước đây (khoản 2 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP), Nghị định 281/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định này và chuyển sang áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại các giấy tờ vi phạm. Điều này góp phần hoàn thiện cơ chế xử lý đối với các hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện thủ tục đất đai.
(3) Từ 31/8/2026, thẩm quyền phạt tiền về đất đai của Chủ tịch UBND cấp xã tăng gấp 50 lần từ 5 triệu đồng lên đến 250 triệu đồng.
Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND cấp xã còn có quyền phạt cảnh cáo, đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong thời hạn 03 tháng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 123/2024/NĐ-CP.
(4) Không thực hiện đăng ký biến động đất đai có thể bị phạt đến 3 triệu đồng
Căn cứ theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 123/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 4 Nghị định 281/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 31/8/2026) quy định, phạt tiền từ 2 - 3 triệu đồng đối với hành vi không thực hiện đăng ký biến động đất đai theo quy định tại các điểm a, b, i, k, l, m và q Khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai, trừ trường hợp nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 Luật Đất đai.
(5) Tăng phạt lĩnh vực đo đạc
Nghị định 228/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 18/2020/NĐ-CР xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ. Một số mức phạt tại Nghị định như sau:
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động đo đạc và bản đồ không có giấy phép hoặc hoạt động đo đạc và bản đồ trong thời gian bị buộc nộp lại giấy phép cho cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép đó.
- Bổ sung hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ từ 03 đến 09 tháng.
(6) Văn bản mới lĩnh vực đất đai
STT | Văn bản | Hiệu lực |
1 | Nghị định 281/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 123/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai | 31/08/2026 |
2 | Thông tư 27/2026/TT-BXD quy định phân cấp thẩm quyền quản lý tài sản công, đầu tư xây dựng | 01/08/2026 |
3 | Thông tư 28/2026/TT-BXD quy định về đăng kiểm phương tiện thủy nội địa | 01/08/2026 |
4 | Thông tư 29/2026/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 61/2026/NĐ-CP về thiết bị kỹ thuật phát hiện vi phạm hành chính | 01/08/2026 |
5 | Thông tư 35/2026/TT-BXD quy định về đăng kiểm viên tàu biển | 15/08/2026 |
6 | Thông tư 42/2026/TT-BXD sửa đổi quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng | 15/08/2026 |
7 | Thông tư 43/2026/TT-BXD quy định về đăng kiểm viên phương tiện thủy nội địa | 15/08/2026 |
8 | Thông tư 50/2026/TT-BXD ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật thuê chuyên cơ chính thức | 16/08/2026 |
9 | Thông tư 53/2026/TT-BXD quy định danh mục, thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác | 15/08/2026 |
10 | Thông tư 59/2026/TT-BXD ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật công tác nạo vét công trình hàng hải | 25/08/2026 |
Có thể thấy, tháng 8/2026 là thời điểm có nhiều thay đổi quan trọng trong lĩnh vực đất đai. Bên cạnh Nghị định 281/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có hiệu lực từ ngày 31/8/2026, việc ban hành định hướng sửa đổi Luật Đất đai cũng cho thấy chủ trương tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch và phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Người dân, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức cần chủ động cập nhật để thực hiện đúng các quy định khi các chính sách mới được triển khai.

Chính sách mới về đất đai trong tháng 8/2026 chi tiết ra sao? Nghị quyết mới về đất đai định hướng sửa đổi Luật Đất đai thế nào? (Hình từ Internet)
Nghị quyết mới về đất đai định hướng sửa đổi Luật Đất đai thế nào?
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2026 về Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tải về
1. Mục tiêu tổng quát
Quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất; bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất, trở thành kênh phân bổ đất đai hợp lý, công bằng, hiệu quả.
2. Mục tiêu cụ thể
Xây dựng, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản..., bảo đảm yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Các quyết định về quy hoạch, kế hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giá đất phải được ghi nhận, công khai, cảnh báo rủi ro.
Đến hết năm 2026, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin, dữ liệu.
Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu.
Đến năm 2030, hệ thống pháp luật về đất đai được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khắc phục triệt để tình trạng sử dụng đất lãng phí, để đất bỏ hoang, ô nhiễm, suy thoái và những hạn chế, vướng mắc về quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại; bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, phân bổ công bằng, hợp lý, gia tăng giá trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
6 Quan điểm chỉ đạo được nêu tại Nghị quyết 21-NQ/TW ra sao?
Mục I Nghị quyết 21-NQ/TW năm 2026 nêu rõ 6 Quan điểm chỉ đạo, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan như sau:
1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, không gian sinh tồn và phát triển; là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền kinh tế và quốc phòng, an ninh quốc gia; là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; tuyệt đối không được tư nhân hoá về đất đai, không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức, trừ trường hợp là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhà nước thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách và thực hiện điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra. Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình.
Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát, xử lý vi phạm. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; Nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững; việc phân bổ, quản lý sử dụng phải bảo đảm công bằng, tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí.
2. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; là yếu tố đầu vào quan trọng cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân; kịp thời có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững.
3. Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, bảo đảm cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất ở bị thu hồi. Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở; bố trí quỹ đất và có cơ chế ưu đãi khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp đáp ứng nhu cầu nơi ở của Nhân dân.
4. Thể chế, chính sách về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Có chính sách phù hợp với từng đối tượng, loại hình sử dụng đất để phát huy cao nhất tiềm năng, giá trị nguồn lực đất đai; kiên quyết khắc phục tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đầu cơ và sử dụng đất đai lãng phí.
5. Chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại về đất đai, bảo đảm quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả, vận hành thông suốt trên nền tảng số, dữ liệu số và ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tập trung, đồng bộ, thống nhất. Hiện đại hoá công tác quản lý, dịch vụ công về đất đai. Đất đai phải được điều tra, đánh giá, thống kê, kiểm kê, lượng hoá, hạch toán đầy đủ trong nền kinh tế; được quy hoạch sử dụng hiệu quả, hợp lý với tầm nhìn dài hạn, hài hoà lợi ích giữa các vùng, miền, giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; phát triển giáo dục, văn hoá, thể thao; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Giải quyết tốt những hạn chế, vướng mắc trong quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và những bất cập mới phát sinh từ thực tiễn. Nâng cao vai trò và năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, tăng cường bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên trong lĩnh vực đất đai.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng và Nhân dân trong xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];