Luật Việc làm 2013 còn hiệu lực không? Trường hợp được xem là chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp? Nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp ở đâu?
>> Luật Việc làm 2025: đối tượng nào phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp?
>> Thanh niên trong trường hợp nào được hỗ trợ đào tạo nghề?
Ngày 16 tháng 11 năm 2013, Quốc hội ban hành Luật Việc làm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Luật Việc làm 2013 quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm; thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm.
Tuy nhiên, hết ngày 31/12/2025 Luật Việc làm 2013 sẽ hết hiệu lực và được thay thế bởi Luật Việc làm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Như vậy, hiện tại thì Luật Việc làm 2013 vẫn đang còn hiệu lực.
Trên đây là nội dung “Luật Việc làm 2013 còn hiệu lực không?”
![]() |
Bảng tính các khoản hưởng, trợ cấp bảo hiểm xã hội tính theo lương cơ sở mới nhất |

Luật Việc làm 2013 còn hiệu lực không? (Ảnh minh họa – Nguồn Internet)
Căn cứ Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, một trong các hành vi sau đây của người sử dụng lao động được coi là chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp:
- Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đã đăng ký kể từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo đối với phương thức đóng hằng tháng; ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đối với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần hoặc kể từ sau ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, trừ trường hợp sau:
+ Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày cuối cùng của tháng tiếp theo đối với phương thức đóng hằng tháng; ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đối với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc.
+ Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc.
+ Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội.
- Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
- Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật.
Căn cứ Điều 46 Luật Việc làm 2013 quy định về hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:
Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.
2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.
3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Như vậy, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.
Cụ thể, người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp thì phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.
Trên đây là toàn bộ nội dung về “Luật Việc làm 2013 còn hiệu lực không? Trường hợp được xem là chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp? Nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp ở đâu?


