Dưới đây là một số mức phạt người nộp thuế cần lưu ý theo Công văn 2616/GLA-NVDTPC năm 2025 của Cục thuế tỉnh Gia Lai.
>> Công văn 2616/GLA-NVDTPC giới thiệu điểm mới Nghị định 310/2025/NĐ-CP
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, Cục thuế tỉnh Gia Lai đã có Công văn 2616/GLA-NVDTPC năm 2025 về giới thiệu điểm mới của Nghị định 310/2025/NĐ-CP.
>>TẢI VỀ<< Công văn 2616/GLA-NVDTPC giới thiệu một số điểm mới của Nghị định 310/2025/NĐ-CP
Theo đó, Cục thuế tỉnh Gia Lai có nêu một số mức phạt người nộp thuế cần lưu ý như sau:
- Mức phạt hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có thể lên đến 70 triệu đồng.
- Mức phạt hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ: Hành vi không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ bị siết chặt hơn với mức phạt tối đa lên đến 80 triệu đồng.
- Hành vi cho, bán hóa đơn: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
- Phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 06 triệu đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế, tài khoản của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 05 ngày trở lên.
- Phạt tiền từ 06 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với các hành vi:
+ Cung cấp không chính xác thông tin về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
+ Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
+ Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
- Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 16 triệu đồng đối với các hành vi:
+ Không cung cấp thông tin liên quan đến tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
+ Không cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
+ Không cung cấp thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.
+ Thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính thuế, trừ hành vi không trích chuyển tiền từ tài khoản đã quy định tại Điều 18 Nghị định 125/2025/NĐ-CP.
Ngoài ra, Nghị định 310/2025/NĐ-CP còn quy định rõ các mức phạt đối với các hành vi như: Tiêu hủy không đúng quy định hoá đơn đặt in mua của cơ quan thuế; vi phạm quy định về cung cấp dịch vụ hoá đơn; khai sai các chỉ tiêu trên hồ sơ thuế; chậm nộp hồ sơ khai thuế…
Trên đây là một số mức phạt người nộp thuế cần lưu ý theo Công văn 2616/GLA-NVDTPC năm 2025 của Cục thuế tỉnh Gia Lai.

Một số mức phạt người nộp thuế cần lưu ý theo Công văn 2616
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ khoản 2 Điều 2 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, quy định những xử phạt vi phạm hành chính về thuế hóa đơn bị bãi bỏ từ 16/01/2026 cụ thể như sau:
- Bãi bỏ khoản 2 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP về hình thức xử phạt bổ sung.
- Bãi bỏ điểm b khoản 1 Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP nhưng người nộp thuế đã tự giác kê khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế thiếu vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế kết thúc thời hạn thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
- Bãi bỏ Điều 20 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi vi phạm quy định về hóa đơn đặt in.
- Bãi bỏ Điều 21 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi vi phạm quy định về in hóa đơn đặt in.
- Bãi bỏ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 22 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi cho, bán hóa đơn.
- Bãi bỏ Điều 23 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi vi phạm quy định về phát hành hóa đơn.
- Bãi bỏ điểm a khoản 1, điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP xử phạt hành vi vi phạm quy định về lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ.
- Bãi bỏ khoản 2 Điều 28 Nghị định 125/2020/NĐ-CP biện pháp khắc phục hậu quả buộc hủy hóa đơn đã sử dụng đối với hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn
- Bãi bỏ khoản 2 Điều 32 Nghị định 125/2020/NĐ-CP thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn của Đội trưởng Đội Thuế.
- Bãi bỏ điểm d khoản 2 Điều 33 Nghị định 125/2020/NĐ-CP thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong đình chỉ hoạt động in hóa đơn có thời hạn.
- Bãi bỏ Điều 34 Nghị định 125/2020/NĐ-CP thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn của thanh tra.
- Bãi bỏ khoản 2 Điều 35 Nghị định 125/2020/NĐ-CP trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi, nội dung cuộc thanh tra trong thời hạn thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra.
Căn cứ Điều 3 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, một số lưu ý khi áp dụng Nghị định 310/2025/NĐ-CP cụ thể như sau:
(i) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã kết thúc trước ngày 16/01/2026 thì áp dụng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm đó.
(ii) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đang được thực hiện trước ngày 16/01/2026 và hành vi vi phạm hành chính đó được phát hiện sau ngày 16/01/2026 thì áp dụng quy định tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP.
(iii) Đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã bị xử phạt trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà cá nhân, tổ chức còn khiếu nại, khởi kiện thì được giải quyết theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.




